Schema

THÁNH LỄ TRỰC TUYẾN MỖI NGÀY


LẦN HẠT MÂN CÔI


I. Cách Chọn Mầu Nhiệm Cho Từng Ngày Trong Tuần
- Thứ Hai & Thứ Bảy => Mầu Nhiệm VUI
- Thứ Ba & Thứ Sáu => Mầu Nhiệm THƯƠNG
- Thứ Tư & Chúa Nhật => Mầu Nhiệm MỪNG
- Thừ Năm => Mầu Nhiệm SÁNG

Ngoại trừ những ngày đặc biệt sau:

- Những ngày Chúa Nhật Giáng Sinh => Mầu Nhiệm VUI
- Những ngày Chúa Nhật Mùa Chay => Mầu Nhiệm THƯƠNG


    II. Cách Lần Hạt Mân Côi

  1. (bắt đầu) Làm Dấu Thánh Giá và đọc Kinh Tin Kính
  2. Đọc Kinh Lạy Cha
  3. Đọc 3 Kinh Kính Mừng
  4. Đọc Kinh Sáng Danh
  5. Đọc Mầu Nhiệm thứ nhất và Kinh Lạy Cha
  6. Đọc 10 Kinh Kính Mừng
  7. Đọc Kinh Sáng Danh và Lời Nguyện Mân Côi
  8. Đọc Mầu Nhiệm thứ hai, rồi đọc Kinh Lạy Cha
  9. Lặp lại mục 6 và 7 => và tiếp tục cho đến hết các Mầu Nhiệm thứ 3, 4 và 5
  10. Đọc Kinh Lạy Nữ Vương, Kinh Trông Cậy và Các Câu Lạy
  11. Làm Dấu Thánh Giá
  12. Hôn Thánh Giá Chúa với tâm hồn kính mến. (hết)
* Khi lần Chuỗi Mân Côi, xin lưu ý cố gắng sốt sắng và đừng đọc nhanh quá!


III. Các Suy Niệm: Vui - Thương - Mừng - Sáng


Suy Niệm 5 Sự Vui:




HìnhNgắm (suy gẫm)
Thứ nhất thì ngắm: Thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường.
Thứ hai thì ngắm: Đức Bà đi viếng Bà Thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.
Thứ ba thì ngắm: Đức Bà sinh Đức Chúa Giêsu trong hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.
Thứ tư thì ngắm: Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền Thánh. Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.
Thứ năm thì ngắm: Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong Đền thánh. Ta hãy xin cho đươc giữ nghĩa cùng Chúa luôn.

Suy Niệm 5 Sự Thương:


HìnhNgắm (suy gẫm)
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.
Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.
Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng.
Thứ tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu vác Thánh Giá. Ta hãy xin cho được vác Thánh Giá theo chân Chúa.
Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây Thánh Giá. Ta hãy xin đóng đanh tính xác thịt vào Thánh Giá Chúa.

Suy Niệm 5 Sự Mừng:



HìnhNgắm (suy gẫm)
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.
Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.
Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần.
Thứ tư thì ngắm: Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.
Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước thiên đàng.


Suy Niệm 5 Sự Sáng:


HìnhNgắm (suy gẫm)
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa.
Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu dự tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Ngài.
Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho được hoán cải và đón nhận Tin Mừng.
Thứ tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được lắng nghe và thực hành lời Chúa.
Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được năng kết hiệp cùng Chúa Giêsu Thánh Thể.

IV. Các Kinh
Dấu Thánh Giá
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.

Kinh Tin Kính
Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa GiêSu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh: chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy, Amen.


Kinh Lạy Cha
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.


Kinh Kính Mừng
Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử. Amen.


Kinh Sáng Danh
Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.


Lời Nguyện Mân Côi
(hoặc còn gọi là Câu Than Fatima, hoặc Kinh Fatima)

Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhầt là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.


Kinh Lạy Nữ Vương
Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ. Chúng con, con cháu E-và, ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay! Nhân thay! Dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.


Kinh Trông Cậy
Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời con nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng hằng chửa chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.


Các Câu Lạy

Thưa: Lạy rất thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu.
Đáp: Thương xót chúng con.

Thưa: Lạy Trái Tim cực Thánh cực tịnh Rất Thánh Đức Bà Maria.
Đáp: Cầu cho chúng con.

Thưa: Lạy Ông thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh.
Đáp: Cầu cho chúng con.

Thưa: Các Thánh Tử Vì Đạo nước Việt Nam.
Đáp: Cầu cho chúng con.

Thưa: Nữ Vương ban sự bằng an.
Đáp: Cầu cho chúng con.

BÀI VIẾT MỚI

BỮA TIỆC LY DIỄN RA KHI NÀO?

 


Vấn đề ngày tháng diễn ra Bữa Tiệc Ly do có sự trái ngược giữa các Phúc âm nhất lãm (Synoptic Gospels) và Phúc âm theo thánh sử Gioan. Thánh sử Máccô, người mà thánh sử Matthêu và Luca theo những điểm chính, cho chúng ta biết ngày tháng chính xác: “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giêsu: “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? Chiều đến, Đức Giêsu và Nhóm Mười Hai cùng tới” (Mc 14:12, 17). Chiều ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, những con chiên Vượt Qua được hiến tế trong Đền Thờ, trước Lễ Vượt Qua (Passover). Theo niên đại của các Phúc âm nhất lãm thì đó là thứ Năm.

Sau khi mặt trời lặn, Lễ Vượt Qua bắt đầu, và lúc đó Chúa Giêsu và các môn đệ ăn Lễ Vượt Qua, cả những khách hành hương đến Giêrusalem. Trong đêm chuẩn bị sang thứ Sáu, theo biên niên sử nhất lãm, Chúa Giêsu bị bắt và bị đưa ra trước tòa án. Sáng thứ Sáu, Ngài bị Philatô kết án tử và ngay sau đó là “khoảng giờ thứ ba” (khoảng 9 giờ sáng), Ngài bị dẫn đến Thập giá. Chúa Giêsu chết lúc giờ thứ chín (khoảng 3 giờ chiều). “Chiều đến, vì hôm ấy là ngày áp lễ, tức là hôm trước ngày Sa-bát, nên ông Giôxếp tới. Ông là người thành Arimathê, thành viên có thế giá của hội đồng, và cũng là người vẫn mong đợi Triều Đại của Thiên Chúa. Ông đã mạnh dạn đến gặp tổng trấn Philatô để xin thi hài Đức Giêsu” (Mc 15:42-43). Việc an táng xảy ra trước khi mặt trời lặn, vì lúc đó ngày Sa-bát bắt đầu. Ngày Sa-bát là ngày Chúa Giêsu được an táng trong mồ. Sự phục sinh xảy ra vào “ngày thứ nhất trong tuần”, tức là ngày Chúa nhật.

Khoa nghiên cứu niên đại gặp vấn đề là cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu đã xảy ra vào ngày Lễ Vượt Qua, mà năm đó rơi vào thứ Sáu. Đúng, nhiều học giả đã cố gắng chứng minh cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu hợp với quy luật Lễ Vượt Qua. Nhưng dù các học giả tranh luận như vậy, vẫn có vẻ khả nghi không biết cuộc xử án trước mặt Philatô và việc đóng đinh Chúa Giêsu có được phép và có thể xảy ra vào ngày lễ quan trọng của người Do Thái như vậy hay không. Vả lại, có lời bình luận trong Phúc âm theo thánh sử Máccô ngược lại giả thuyết này. Ngài nói với chúng ta rằng hai ngày trước lễ Bánh Không Men, các thượng tế (chief priests) và các kinh sư (scribes) tìm cách gài bẫy Chúa Giêsu để bắt giết Ngài, nhưng về phương diện này họ tuyên bố: “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động” (Mc 14:2). Theo trình thuật này, việc xử tử Chúa Giêsu thực sự xảy ra vào chính ngày lễ đó.

Chúng ta hãy qua trình thuật của thánh sử Gioan. Thánh sử Gioan viết dài nhất để chứng tỏ rằng Bữa Tiệc Ly không là bữa ăn Vượt Qua. Ngược lại: Chính quyền Do Thái dẫn Chúa Giêsu đến trước tòa Philatô để tránh vào dinh (praetorium), “họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được” (Ga 18:28). Do đó, Lễ Vượt Qua chỉ bắt đầu vào buổi chiều tối, và lúc xử án thì bữa ăn Vượt Qua chưa diễn ra; cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu xảy ra vào ngày trước Lễ Vượt Qua, vào “ngày chuẩn bị”, không phải chính ngày lễ. Lễ Vượt Qua năm đó từ chiều tối thứ Sáu đến chiều tối thứ Bảy, không phải từ chiều tối thứ Năm đến chiều tối thứ Sáu.

Mặt khác, kết cuộc của các sự kiện vẫn giống nhau: Chiều tối thứ Năm – Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu với các môn đệ, nhưng không là bữa ăn Vượt Qua; thứ Sáu, trước ngày lễ, không là chính ngày lễ – cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu; thứ Bảy – an táng trong mồ; thứ Bảy – phục sinh. Theo trình tự này, Chúa Giêsu chết lúc những con chiên Vượt Qua bị sát tế trong Đền Thờ. Chúa Giêsu chết như một con chiên thật, chỉ được các “sát thủ” báo trước trong Đền Thờ.

Nối kết quan trọng này về phương diện thần học, cái chết của Chúa Giêsu xảy ra đồng thời với việc sát tế các con chiên Vượt Qua, đã khiến nhiều học giả loại bỏ cách mô tả của thánh sử Gioan là thần học. Họ cho rằng thánh sử Gioan đã thay đổi niên đại để tạo sự nối kết thần học này, điều được coi là minh nhiên trong Phúc âm. Ngày nay, càng lúc càng rõ ràng rằng niên đại của thánh sử Gioan có thể thích hợp lịch sử hơn niên đại của Phúc âm nhất lãm. Vì như đã nói ở trên: cuộc xử án và đóng đinh Chúa Giêsu vào ngày lễ là khó có thể hiểu. Mặt khác, Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu có vẻ rất gần với truyền thống Lễ Vượt Qua, từ chối đặc tính Lễ Vượt Qua này là khó hiểu.

Do đó đã có nhiều cố gắng để dung hòa hai niên đại. Điều quan trọng nhất và thực sự thu hút nỗ lực dung hòa hai truyền thống này đã được nữ học giả người Pháp Annie Jaubert phát triển một loạt giả thuyết được công bố từ năm 1953. Chúng ta không đi vào chi tiết của các giả thuyết này; chúng ta hãy hạn chế vào những điểm chính.

Bà Jaubert dựa vào hai văn bản ban đầu đề nghị cách giải quyết vấn đề. Trước tiên, bà nói đến lịch cổ có trong Sách Năm Toàn Xá (Book of Jubilees), đó là văn bản bằng tiếng Hê-brơ có từ nửa sau của thế kỷ II trước Chúa Kitô. Lịch này có các chu kỳ mặt trăng và dựa vào năm có 364 ngày, chia thành 4 mùa, mỗi mùa có 3 tháng, có hai mùa có 30 ngày và một mùa có 31 ngày. Thời đó mỗi quý có 91 ngày, chính xác là 13 tuần, và mỗi năm có chính xác 52 tuần. Theo đó, các lễ phụng vụ rơi vào cùng ngày mỗi năm. Đối với Lễ Vượt Qua, điều này nghĩa là ngày 15 tháng Nisan luôn luôn là thứ Tư và bữa ăn Vượt Qua được tổ chức sau khi mặt trời lặn vào chiều tối thứ Ba. Theo Jaubert, Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua theo lịch này, nghĩa là vào chiều tối thứ Ba, và Ngài bị bắt trong đêm chuyển sang thứ Tư.

Jaubert so sánh cách giải quyết này với 2 vấn đề: Trước tiên, Chúa Giêsu ăn bữa Vượt Qua thật, như truyền thống nhất lãm vẫn giữ; nhưng thánh sử Gioan cũng đúng, theo đó chính quyền Do Thái, theo lịch của họ, không mừng Lễ Vượt Qua cho đến sau khi xử Chúa Giêsu, và do đó Chúa Giêsu bị xử vào ngày trước Lễ Vượt Qua thật, không phải chính ngày lễ. Cả truyền thống nhất lãm và truyền thống Johan có vẻ đúng về cơ bản của sự khác nhau giữa hai lịch.

Sự thuận lợi thứ hai được Annie Jaubert nhấn mạnh cho thấy cùng thời điểm đó nỗ lực giải quyết còn yếu kém. Bà chỉ ra rằng các niên đại truyền thống (Phúc âm nhất lãm và Johan) phải ép toàn bộ các sự kiện thành vài giờ: nghe nói trước khi Chúa Giêsu bị dẫn đến Philatô, vợ Philatô có một giấc mơ, Chúa Giêsu bị giao cho Herod, rồi giao lại cho Philatô, rồi ông rửa tay thanh minh, rồi việc kết án tử, vác thập giá và bị đóng đinh. Theo Jaubert, hoàn tất mọi thứ trong khoảng vài giờ có vẻ khó khả thi. Cách giải quyết của bà cung cấp một cách sắp xếp thời gian từ đêm chuẩn bị sang thứ Tư cho đến sáng thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday).

Bà cũng tranh luận rằng thánh sử Máccô đưa ra một hệ quả chính xác về các sự kiện Chúa nhật Lễ Lá (Palm Sunday), thứ Hai và thứ Ba, nhưng rồi chuyển thẳng qua bữa ăn Vượt Qua. Theo ngày tháng truyền thống, hai ngày còn lại không có gì được tính đến. Cuối cùng, Jaubert nhắc chúng ta rằng, nếu lý thuyết của bà đúng thì chính quyền Do Thái có thể đã thành công theo kế hoạch giết Chúa Giêsu vào giờ tốt trước ngày lễ. Lúc đó Philatô trì hoãn việc đóng đinh cho tới thứ Sáu, vậy là lý thuyết đúng dù có chút lưỡng lự.

Dĩ nhiên, người ta phản đối cách sửa lại niên đại của Bữa Tiệc Ly vào thứ Ba là truyền thống lâu đời ấn định lễ vào thứ Năm, điều mà chúng ta thấy rõ ràng được thiết lập ngay từ thế kỷ II. Bà Jaubert đáp lại bằng cách chỉ ra văn bản thứ hai mà lý thuyết của bà dựa vào: Cái gọi là Didascalia Apostolorum (1), một văn bản từ thế kỷ III đặt Bữa Tiệc Ly vào thứ Ba. Bà cố gắng chứng tỏ sách này duy trì một truyền thống cổ, cũng có trong các văn bản khác.

Để đáp lại, người ta phải nói rằng các dấu vết truyền thống đối với bà ám chỉ là chưa đủ thuyết phục. Khó khăn khác là Chúa Giêsu không thể dùng lịch theo quy luật Qumran. Chúa Giêsu lên Đền Thờ dự đại lễ. Thậm chí Ngài nói tiên tri về sự tàn phá Đền Thờ và xác định điều này bằng hành động mạnh mẽ, Ngài vẫn theo lịch Do Thái, đặc biệt là chứng cớ trong Phúc âm theo thánh sử Gioan. Thật vậy, người ta có thể đồng ý với Jaubert rằng lịch năm Toàn xá không hạn chế theo Qumran và Essenes (2). Nhưng điều này không đủ để bào chữa cho việc áp dụng lịch đó đối với Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu. Như vậy điều này có thể hiểu rằng lý thuyết Annie Jaubert – thu hút ngay từ đầu – bị đa số các nhà chú giải bác bỏ.

Vậy chúng ta nói gì? Cách đánh giá tỉ mỉ có trong một cuốn sách của John P Meier viết về Chúa Giêsu, ông giới thiệu cuốn 1 là cuốn nghiên cứu về niên đại của cuộc đời Chúa Giêsu. Ông kết luận rằng người ta phải chọn giữa niên đại nhất lãm và Johan. Ông tranh luận rằng, về cơ bản của mọi nguồn, các chứng cớ đều “ủng hộ” thánh sử Gioan.

Thánh sử Gioan đúng khi ngài nói rằng lúc xét xử Chúa Giêsu trước tòa Philatô thì chính quyền Do Thái chưa ăn Lễ Vượt Qua, và như vậy phải giữ đúng nghi lễ. Thánh sử Gioan đúng khi cho rằng việc đóng đinh không xảy ra vào ngày lễ, nhưng vào hôm trước ngày lễ. Điều này nghĩa là Chúa Giêsu chết vào giờ mà các chiên Vượt Qua đang bị sát tế trong Đền Thờ. Sau đó các Kitô hữu thấy điều này không trùng khớp, họ coi Chúa Giêsu là con chiên thật, theo cách này mà họ hiểu ý nghĩa thật của nghi lễ con chiên – điều này có vẻ theo tự nhiên.

Vấn đề vẫn còn: Tại sao Phúc âm nhất lãm nói về bữa ăn Vượt Qua? Điều gì là cơ bản đối với truyền thống này? Không phải Meier có thể đưa ra cách trả lời thuyết phục cho vấn đề này. Ông đã cố gắng – như nhiều nhà chú giải khác – qua những bài phê bình của ông. Ông tranh luận rằng Mc 14:1a và 14:12-16 – những đoạn duy nhất mà thánh sử Máccô nói đến Lễ Vượt Qua – được thêm vào sau. Ông nói rằng khi nói đến Bữa Tiệc Ly không có ám chỉ nào về Lễ Vượt Qua.

Tuy nhiên, tranh luận này là giả tạo. Nhưng Meier đúng khi chỉ ra trong cách diễn tả về chính bữa ăn, Phúc âm nhất lãm kể lại một ít về nghi thức Lễ Vượt Qua như thánh sử Gioan. Như vậy, với chút dè dặt nào đó, người ta có thể đồng ý với kết luận của ông: “Toàn bộ truyền thống Johan, từ đầu tới cuối, hoàn toàn đồng ý với truyền thống nhất lãm nguyên thủy về đặc tính phi Vượt Qua (non-Passover character) của bữa ăn” (A Marginal Jew, i, tr. 398).

Chúng ta phải hỏi Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu thực sự là gì. Và bằng cách nào có được cách quy kết ban đầu khả nghi về đặc tính của Lễ Vượt Qua? Câu trả lời của Meier rất đơn giản và có nhiều khía cạnh thuyết phục: Chúa Giêsu biết Ngài sẽ chịu chết và biết Ngài không thể ăn Lễ Vượt Qua lần nữa. Hoàn toàn biết rõ nên Ngài mời các môn đệ ăn Bữa Tiệc Ly theo cách thức rất đặc biệt, không theo nghi thức Do Thái, nhưng là cách từ giã của Ngài; khi đang ăn, Ngài trao cho họ điều mới lạ, Ngài trao ban chính Ngài là con chiên thật và do đó Ngài thiết lập Lễ Vượt Qua của Ngài.

Trong các Phúc âm nhất lãm, lời tiên tri về cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu hình thành một phần của bữa ăn. Thánh sử Luca giới thiệu một cách nghiêm trọng và bí ẩn: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa” (Lc 22:15-16). Cách nói nước đôi. Có thể Chúa Giêsu đang ăn bữa Vượt Qua bình thường với các môn đệ lần cuối cùng. Nhưng cũng có thể Ngài không còn ăn bữa Vượt Qua nữa, mà Ngài muốn ăn bữa Vượt Qua mới.

Có điều nổi bật từ toàn bộ truyền thống: Đặc biệt là bữa ăn chia tay này không là Lễ Vượt Qua cũ, nhưng là Lễ Vượt Qua mới mà Chúa Giêsu đã hoàn tất. Cho dù Ngài chia sẻ bữa ăn với Nhóm Mười Hai không là bữa Vượt Qua theo nghi thức đạo Do Thái (Judaism), nhưng sự liên kết bên trong toàn bộ sự kiện với cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu vẫn rõ ràng. Đó là Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu. Và theo nghĩa này, Ngài vừa ăn mừng vừa không ăn mừng Lễ Vượt Qua: Các nghi thức cũ không thể được thực hiện – khi thời giờ của họ đến, Chúa Giêsu đã chết rồi. Nhưng Ngài đã trao ban chính Ngài, do đó Ngài thực sự ăn mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ. Lễ cũ không bị bãi bỏ mà vẫn đầy ý nghĩa.

Các chứng cớ mới đây nhất đối với quan điểm về lễ cũ và lễ mới, có cách giải thích mới về đặc tính Lễ Vượt Qua trong bữa ăn của Chúa Giêsu qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, được thấy trong thư thứ nhất của thánh Phaolô gởi giáo đoàn Côrintô: “Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (1 Cr 5:7; x. Meier, A Marginal Jew, i, tr. 429f). Như trong Mc 14:1, đây là ngày thứ nhất trong tuần lễ Bánh Không Men và ngay sau đó là Lễ Vượt Qua, nhưng cách hiểu theo nghi thức cũ được chuyển thành cách hiểu theo Kitô học (Christological) và hiện sinh (existential). Ngày nay Bánh Không Men ám chỉ chính các Kitô hữu, những người được giải thoát khỏi tội lỗi bằng cách thêm men vào. Nhưng Chiên hiến tế là Đức Kitô. Ở đây thánh Phaolô hài hòa với cách giới thiệu của thánh sử Gioan về các sự kiện. Đối với ngài, sự chết và sự phục sinh của Đức Kitô trở thành Lễ Vượt Qua kéo dài mãi mãi.

Về cơ bản này, người ta có thể hiểu rất sớm về Bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu – kể cả không chỉ một lời tiên tri mà còn sự tham dự thực sự của Thập giá và sự Phục sinh trong Thánh Thể – được coi là một Lễ Vượt Qua: như Lễ Vượt Qua của Ngài. Và như vậy đó.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ CatholicHerald.co.uk)

(1) Sách Giáo lý các Tông đồ là sách chuyên khảo bằng tiếng Hy Lạp về luân lý và tín lý mà truyền thống cho rằng do các thánh Tông đồ soạn ra. Có lẽ phần lớn do một giám mục ở Syria viết trong thế kỷ III. Nó tạo phần đầu của Hiến chương Tông đồ, nghĩa là 8 cuốn sách đầu tiên của các Tông đồ. Sách bàn về việc chăm lo các hối nhân, bổn phận của giáo sĩ và giáo dân, và bảo vệ đức tin chống lại lạc giáo. Cuốn sách này thường được gọi là nỗ lực đầu tiên của Bộ giáo luật.

(2) Phái Êsêniô là các nhóm người Do thái sống khổ hạnh trước CN, không được nêu tên trong Kinh thánh hoặc sách Talmud (Huấn giáo Do Thái), nhưng được Philo nhắc đến (năm 20 trước CN đến năm 40 sau CN), Josephus (năm 37 trước CN, khỏang năm 100), và Pliny Cả (năm 23-79). Danh từ này có nghĩa là “những người đạo đức”. Họ dường như bắt đầu sống khổ hạnh vào thế kỷ II trước Công nguyên, và chấm dứt phái này vào thế kỷ II sau CN, và luôn tồn tại ở Palestine. Theo Josephus, số người theo phái này khỏang 4.000 người vào cuối thế kỷ I. Họ là một hội chuyên biệt, chủ yếu làm nông nghiệp. Nói chung là họ không lập gia đình, nhưng không bác bỏ giá trị hôn nhân, và tuyển người vào hội bằng cách nhận trẻ em làm con nuôi. Họ thực hiện đời sống cộng đòan cách nghiêm ngặt nhất, và cũng là hệ thống đẳng cấp cứng rắn. Ngòai mê tín dị đoan, họ còn tin Đức Chúa (Giavê) và sự bất tử. Họ hầu như bị quên lãng trong lịch sử tôn giáo, cho đến khi người ta phát hiện các Sách cuộn Biển Chết vào năm 1947. Hầu như chắc chắn đây là một cộng đoàn phái Êsêniô, đã làm ra kho tàng văn chương được tìm thấy ở Qumran, gần Biển Chết. (Từ nguyên Hy Lạp là Hosioi – thánh nhân, tu sĩ; hoặc từ chữ Aramaic – người thinh lặng).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

BÀI VIẾT LIÊN QUAN